Nguyên nhân khiến bệnh tay chân miệng tái nhiễm nhiều lần

nguyen-nhan-khien-benh-tay-chan-mieng-tai-nhiem-nhieu-lan

Bệnh tay chân miệng đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước ở tay, chân, miệng và thường tiến triển đến loét. Chúng ta có thể quan sát các tổn thương này ở lưỡi, nướu và bên trong má.

Bệnh tay chân miệng là một căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nếu không thực hiện các biện pháp phòng ngừa đúng cách, bệnh có thể tái nhiễm nhiều lần.

Nguyên nhân khiến bệnh tay chân miệng tái nhiễm nhiều lần

Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm, virus có thể lây từ người sang người khi tiếp xúc trực tiếp với nước bọt, dịch nhầy ở mũi họng, dịch từ bọng nước hay phân của người bệnh, sử dụng đồ dùng cá nhân chung với người bị tay chân miệng.

Nếu không có các biện pháp phòng ngừa và kiểm soát kịp thời, nguy cơ rất lớn bệnh bùng phát thành dịch. Bệnh có nguy cơ lây lan mạnh nhất ở giai đoạn 7 ngày đầu tiên sau khi nhiễm bệnh, tuy nhiên giai đoạn lây nhiễm còn kéo dài vài tuần, nguyên nhân là do virus gây bệnh còn lưu trú ở phân người bệnh.

Bệnh tay chân miệng xuất phát từ việc cơ thể nhiễm virus đường ruột. Trong trường hợp cơ thể nhiễm virus coxsackie A16 gây bệnh tay chân miệng, thông thường bệnh ở thể nhẹ, hầu như không xuất hiện triệu chứng và có thể tự khỏi.

Tuy nhiên, nếu cơ thể mắc bệnh tay chân miệng do nhiễm virus enterovirus 71 (EV71), trường hợp này bệnh ở thể nặng, xuất hiện nhiều biến chứng nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong. Mỗi lần nhiễm bệnh chỉ tạo ra kháng thể với một loại vi rút nhất định, do đó thể mắc bệnh trở lại nếu bị nhiễm vi rút khác thuộc nhóm enterovirus. Vì vậy, trẻ đã từng mắc bệnh tay chân miệng hoàn toàn có nguy cơ tái nhiễm.

Sự nguy hiểm của bệnh tay chân miệng

Người bệnh tay chân miệng có thể biến chứng sốt, đau đầu, cứng cổ, hoặc đau lưng.

Bệnh tay chân miệng do nhiễm virus coxsackievirus A16 ở thể nhẹ, bệnh nhân tay chân miệng đều hồi phục sau từ 7 đến 10 ngày mà không cần điều trị y tế và ít có biến chứng.

Mất nước là biến chứng thường gặp nhất ở bệnh tay chân miệng do nhiễm virus coxsackievirus; biến chứng này có thể xảy ra nếu bệnh nhân uống quá ít chất lỏng do bị loét trong khoang miệng.

Hiếm có trường hợp nhiễm virus coxsackievirus A16 tiến triển thành viêm màng não “vô trùng” hay viêm màng não do virus. Tuy nhiên người bệnh bị sốt, đau đầu, cứng cổ, hoặc đau lưng và có thể phải nhập viện trong vài ngày.

Bệnh tay chân miệng gây ra bởi virus EV71 có thể tiến triển thành bệnh viêm màng não và viêm não, và trong một số trường hợp có thể dẫn đến nhiều biến chứng nghiêm trọng, bao gồm các biến chứng bệnh tay chân miệng về thần kinh, tim mạch và hô hấp. Đã ghi nhận những trường hợp tử vong do virus EV71 gây bệnh viêm não trong các đợt bùng phát.

Đối tượng nào có nguy cơ nhiễm bệnh tay chân miệng?

Tất cả những ai chưa từng mắc bệnh đều có nguy cơ lây nhiễm, nhưng không phải ai bị nhiễm virus cũng có biểu hiện của bệnh. Bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ em dưới 10 tuổi, phổ biến với trẻ nhỏ dưới 5 tuổi. Trẻ càng nhỏ thì các triệu chứng có thể nghiêm trọng hơn.

Trẻ em có nguy cơ lây nhiễm virus và mắc bệnh cao hơn vì các em có khả năng đề kháng và miễn dịch yếu hơn người lớn. Hầu hết người lớn được miễn dịch nhưng những trường hợp thanh thiếu niên và người trưởng thành bị nhiễm virus cũng không phải là hiếm.

Tỷ lệ lây truyền virus đường ruột cho người khỏe mạnh là 17%, ở người thân và người tiếp xúc trực tiếp với trẻ mắc bệnh là 23%. Kết luận này chứng tỏ tất cả những người có cơ hội tiếp xúc với trẻ bị tay chân miệng đều có nguy cơ bị nhiễm bệnh và thậm chí có khả năng lây bệnh cho người khác.

Bệnh tay chân miệng thường gặp ở trẻ em dưới 5 tuổi.

Cách điều trị và phòng ngừa bệnh tay chân miệng?

Chưa có thuốc phòng chống virus hoặc các loại vắc xin đặc hiệu để phòng ngừa các loại virus enterovirus không gây bại liệt là tác nhân của bệnh tay chân miệng. Có thể giảm nguy cơ lây nhiễm bằng các biện pháp vệ sinh chặt chẽ và can thiệp y tế kịp thời khi trẻ có các triệu chứng nghiêm trọng. Người bệnh nên uống nhiều nước và có thể dùng thuốc để điều trị triệu chứng như sốt hay đau do các vết loét.

Các biện pháp phòng ngừa bao gồm:

  • Rửa tay thường xuyên bằng xà phòng và nước sau khi tiếp xúc với các vết bọng nước hoặc vết loét, trước khi nấu ăn hoặc trước khi ăn, trước khi cho trẻ ăn, sau khi đi vệ sinh và thay tã.
  • Rửa sạch các bề mặt và vật dụng bị nhiễm khuẩn (bao gồm đồ chơi) trước tiên với nước và xà phòng, sau đó tẩy trùng bằng chất tẩy có chứa chlorine pha loãng.
  • Tránh tiếp xúc trực tiếp (ôm hôn, sử dụng chung đồ dùng,…) với trẻ bị nhiễm bệnh cũng giúp làm giảm nguy cơ lây nhiễm.
  • Không để trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đang nhiễm bệnh đến nhà trẻ, mẫu giáo, trường học hoặc tụ tập đông người cho đến khi khỏe hẳn.
  • Theo dõi sát sao tình trạng của trẻ nhiễm bệnh và can thiệp y tế kịp thời nếu sốt cao liên tục, mất tỉnh táo và hoặc tình trạng chung diễn biến theo chiều hướng xấu.
  • Lấy khăn giấy hoặc khuỷu tay trong để che mũi và miệng khi hắt hơi hoặc ho.
  • Vứt khăn giấy và tã đã qua sử dụng vào thùng rác được đậy.
  • Giữ vệ sinh tại nhà, trung tâm chăm sóc trẻ, nhà trẻ mẫu giáo hoặc tại trường học.

Nguồn tham khảo: Tổng hợp

Lưu ý: Thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, vui lòng liên hệ với Bác sĩ, Dược sĩ hoặc chuyên viên y tế để được tư vấn cụ thể.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *