Lọc máu liên tục cấp cứu

loc-mau-lien-tuc-cap-cuu

1. Tổng quan về Lọc máu liên tục cấp cứu

  • Tên khoa học: Lọc máu liên tục cấp cứu
  • Tên thường gọi: Lọc máu liên tục cấp cứu
  • Mô tả sơ bộ kỹ thuật:

Lọc máu liên tục cấp cứu là phương thức lọc máu bằng vòng tuần hoàn ngoài cơ thể được tiến hành chậm từ từ liên tục trong 24h/ngày nhằm mục đích đào thải ra khỏi máu người bệnh một cách liên tục. Vì vậy kỹ thuật này thường được chỉ định cho những người bệnh suy thận có huyết động không ổn định, và cho những người bệnh nặng tại hồi sức cấp cứu: sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng, rối loạn chuyển hóa, ngộ độc,… 

Kỹ thuật lọc máu liên tục cấp cứu yêu cầu sử dụng bơm máu, bơm dịch thải và bơm dịch thay thế; Không cần sử dụng bơm dịch thẩm tách. Nước và các chất hòa tan được loại bỏ bằng cơ chế đối lưu và siêu lọc.

Kỹ thuật này dùng để điều trị bệnh gì?

  • Viêm tụy cấp
  • Suy thận

2. Đối tượng chỉ định và chống chỉ định

Chỉ định:

  • Bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn, suy đa tạng.
  • Bệnh nhân suy thận.
  • Người bệnh nặng tại hồi sức cấp cứu có tổn thương thận cấp ở mức độ I kèm theo một trong các dấu hiệu quá tải dịch, thiểu niệu nước tiểu.
  • Bệnh nhân có chỉ định thở máy, tăng các chỉ số máy nguyên nhân liên quan đến tình trạng quá tải dịch. 
  • Bệnh nhân cần đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng hoặc có rối loạn điện giải nhưng phải hạn chế dịch. 
  • Bệnh nhân có quá tải dịch > 10% nhưng cần phải truyền một khối lượng lớn thuốc, máu và các sản phẩm của máu 
  • Rối loạn điện giải nặng, đe dọa tử vong không đáp ứng với điều trị nội khoa. 
  • Sốt xuất huyết: suy thận cấp có hoặc không kèm ARDS hoặc tổn thương gan 
  • Bệnh lý khác có suy đa cơ quan: viêm tụy cấp, ong đốt, rắn cắn,… 
  • Người bệnh nặng tại hồi sức cấp cứu chưa có tổn thương thận cấp 129.
  • Nhiễm khuẩn nặng có sốc nhiễm khuẩn, có suy đa tạng theo tiêu chuẩn Goldstein
  • Bệnh tay chân miệng cấp độ 3 có rối loạn thần kinh phó giao cảm nặng (nhịp tim nhanh, vân tím, sốt cao liên tục khó hạ nhiệt..) có sốc hoặc hôn mê. 
  • Quá tải dịch hoặc gây phù cơ quan đặc biệt gây phù phổi 
  • Ngộ độc cần lọc loại bỏ chất độc: ngộ độc rượu, ngộ độc thuốc.
  • Bệnh lý đông máu cần truyền một khối lượng lớn máu và các chế phẩm máu ở những người bệnh nặng có nguy cơ gây phù phổi cấp hoặc ARDS. 
  • Rối loạn chuyển hóa bẩm sinh: Rối loạn chu trình ure, toan chuyển hóa do acid hữu cơ, bệnh maple syrup urine disease… 
  • Tăng thân nhiệt ác tính
  • Sốc bỏng ở người bệnh bỏng độ II, III, diện tích phỏng 30-70% 

Chống chỉ định:

  • Bệnh nhân bị xuất huyết não.
  • Bệnh nhân bị rối loạn động máu nặng.

3. Ưu điểm và nhược điểm của kỹ thuật

Ưu điểm:

  • Tỷ lệ thành công trên 95%.
  • Kỹ thuật nằm trong danh mục được Bảo hiểm y tế hỗ trợ.
  • Giải độc nhanh cho bệnh nhân.
  • Điều trị an toàn hiệu quả và nhanh chóng.
  • Khả năng phục hồi của bệnh nhân tốt hơn.
  • Hạn chế tử vong cho bệnh nhân.
  • Thải chất độc mà bình thường gan thận và cơ thể khó có thể thải trừ như các chất độc, các phức hợp kháng nguyên, kháng thể, các chất trung gian.

Nhược điểm:

  • Cần phải sử dụng thuốc chống đông máu.
  • Bệnh nhân cần nằm bất động kéo dài.
  • Chi phí cao.
  • Phải chăm sóc và theo dõi bệnh nhân 24/24.
  • Gây rối loạn đông máu cho bệnh nhân.
  • Hạ huyết áp.
  • Rối loạn nhịp tim.
  • Hội chứng mất cân bằng.
  • Phản ứng màng lọc.
  • Tán huyết.
  • Rối loạn điện giải.

4. Quy trình thực hiện

Bước 1: Bác sĩ đặt bệnh nhân lên giường để tiến hành lọc máu.

Bước 2: Lắp hệ thống dây, quả vào máy lọc máu, mồi dịch và test máy theo quy trình.

Bước 3: Tiến hành lọc máu:

  • Kết nối hệ thống tuần hoàn của máy lọc máu liên tục với tĩnh mạch của bệnh nhân thông qua catheter 2 hoặc 3 nòng đã chuẩn bị trước.
  • Vận hành các bơm trên máy lọc máu liên tục:
  • Bơm máu: tùy theo tình trạng huyết động của bệnh nhân, loại catheter và tốc độ dịch thay thế mà tốc độ bơm máu có thể thay đổi từ 100 ml/ph – 350 ml/ph.
  • Bơm dịch thay thế: điều chỉnh tốc độ dịch thay thế thay đổi từ 20 – 80 mL/kg/giờ.
  • Bơm dịch thẩm tách: điều chỉnh tốc độ dịch thẩm tách thay đổi từ 1000 -3000mL/giờ.
  • Sử dụng thuốc chống đông trong suốt quá trình lọc máu liên tục: có thể sử dụng chống đông bằng Heparin, chống đông Citrat hoặc không dùng chống đông trong trường hợp BN có rối loạn đông máu nặng.
  • Thời gian lọc máu cho một quả lọc thay đổi tùy theo đời sống của quả lọc, trung bình từ 8 – 24 giờ.
  • Tiêu chuẩn ngừng lọc máu: khi các chỉ định để lọc máu không còn nữa.

Bước 4: Kết thúc lọc máu

  • Ngừng chống đông nếu có 30 phút trước khi kết thúc
  • Ngừng các bơm dịch thay thế và dịch thẩm tách
  • Dồn trả máu lại cho BN bằng cách kết nối với 500ml NaCl 0.9%

Biểu hiện bình thường sau thực hiện kỹ thuật

  • Bệnh nhân có cảm giác khỏe khoắn, ăn ngon, ngủ ngon.
  • Bệnh nhân hết khó thở, không sốt, không bị tụt huyết áp.

5. Khi nào thì những biểu hiện sau thực hiện kỹ thuật là bất thường và cần tái khám ngay?

  • Bệnh nhân bị xuất huyết tiêu hóa.
  • Bệnh nhân bị chảy máu chân.
  • Bệnh nhân bị rối loạn điện giải, hạ đường huyết.
  • Bệnh nhân bị hạ thân nhiệt.
  • Bệnh nhân bị nhiễm trùng vị trí đặt máy lọc.

6. Những điều cần lưu ý khi thực hiện kỹ thuật này

  • Theo dõi và chăm sóc bệnh nhân 24/24 để khắc phục những tai biến không mong muốn.
  • Theo dõi các thông số của máy lọc máu như: áp lực hút máu, áp lực trả máu về, áp lực xuyên màng (TMP), độ chênh áp giữa đầu vào và đầu ra quả lọc mỗi giờ một lần.
  • Theo dõi các báo động trên máy lọc máu: báo động rò rỉ máu trong túi dịch thảy, báo động hiện diện khí trên đường máu về bệnh nhân, báo động hết heparin cần phải thay, báo động hết dịch lọc cần phải thay mới, báo động túi dịch thay đầy cần phải đổ đi….

Nguồn: Vinmec

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *