Viêm màng não mủ

Viêm màng não mủ

1. Tổng quan bệnh Viêm màng não mủ

Viêm màng não mủ hay còn gọi là viêm màng não vi trùng, là tình trạng nhiễm khuẩn màng não do các tác nhân gây bệnh có khả năng gây viêm và sinh mủ (chủ yếu là vi khuẩn).

Là một trong những bệnh phổ biến ở trẻ em, viêm màng não vi khuẩn gặp nhiều nhất là ở lứa tuổi dưới 5 tuổi.  Các vi khuẩn gây bệnh xuất hiện trong khoang dịch não tủy, làm tổn thương hệ thần kinh, gây tỷ lệ tử vong cao và để lại những di chứng nặng nề về vận động, nhận thức.

2. Nguyên nhân bệnh Viêm màng não mủ

Ba loại vi khuẩn gây bệnh viêm màng não mủ hay gặp nhất là: phế cầu (Streptococcus pneumonia), Haemophilus influenza tuýp b, não mô cầu (Neisseria meningitidis). Ở trẻ sơ sinh vi khuẩn gây bệnh thường gặp là: Escherichia coli, Listeria monocytogenes, streptococcus nhóm B

Ngoài ra nhiều loại vi khuẩn và nấm khác cũng có thể là căn nguyên gây viêm màng não mủ nhưng ít gặp hơn và thường xảy ra trên những người bệnh có tình trạng suy giảm miễn dịch, du khuẩn huyết.

Viêm màng não mủ do Streptococcus pneumoniae (phế cầu khuẩn)

  • Phế cầu khuẩn Streptococcus pneumoniae là nguyên nhân gây viêm màng não mủ hàng đầu tại các nước đã chủng ngừa Haemophilus influenzae tuýp b. Tỷ lệ viêm màng não mủ do phế cầu vào khoảng 1 – 3/1000 dân nghĩa là trung bình cứ 1000 người thì có khoảng 1 – 3 người mắc viêm màng não mủ do phế cầu khuẩn.
  • Sau khi sinh trẻ có thể bị lây nhiễm vi khuẩn này từ các thành viên trong gia đình. Phế cầu khuẩn cư trú trong niêm mạc họng gây các bệnh viêm xoang, viêm tai giữa…, từ đó chúng tấn công não tuỷ và gây ra viêm màng não mủ.
  • Các yếu tố nguy cơ của viêm màng não mủ do phế cầu là viêm tai giữa, viêm xoang, viêm phổi, rò rỉ dịch não tủy qua tai hoặc qua mũi, bệnh nhân cắt lách, nhiễm HIV, bệnh ghép chống chủ sau ghép tủy xương.

Viêm màng não mủ do Haemophilus influenzae tuýp b

  • Viêm màng não mủ do Haemophilus influenzae tuýp b thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ từ 1 tháng – 36 tháng tuổi không được chủng ngừa chống lại tác nhân này. Trong thời gian này, não bộ của bé đang phát triển nên nếu mắc bệnh thường có biến chứng rất nặng, có thể tử vong ngay trong những ngày đầu tiên.
  • Haemophilus influenzae tuýp b có thể lây truyền qua đường hô hấp,
  • Phương thức truyền bệnh là từ người sang người qua các giọt bắn từ chất tiết đường hô hấp, dễ lây lan thành ổ dịch lớn. Tỷ lệ tử vong do bệnh còn khá cao, thường xảy ra trong những ngày đầu tiên của bệnh.

Viêm màng não mủ do não mô cầu

  • Đối tượng chủ yếu mắc viêm màng não mủ do não mô cầu là trẻ nhỏ từ 6 – 12 tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ trên 1 tuổi mắc bệnh thường thấp hơn.
  • Lây truyền chủ yếu do tiếp xúc người với người thông qua các giọt bắn nhỏ từ chất tiết đường hô hấp. Tuy nhiên không phải tất cả các trường hợp có vi khuẩn đường hầu họng đều bị bệnh.
  • Viêm màng não mủ do não mô cầu thường xuất hiện các ban xuất huyết hoại tử hình sao (tử ban). Tỷ lệ tử vong rất cao trong thể tiến triển tối cấp. Trong thể này, tử vong thường xảy ra trong vòng 24 giờ sau khi nhập viện. 

Viêm màng não mủ do E.Coli

Là vi khuẩn cư trú trong hệ tiêu hóa, E. coli thường gây viêm màng não mủ ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, ít gặp ở trẻ lớn và người lớn. Viêm màng não mủ do E. coli ở trẻ sơ sinh là một bệnh lý nặng vì thường nằm trong bệnh cảnh nhiễm trùng huyết gây tử vong cao.

Viêm màng não mủ do Listeria monocytogenes

Thịt, sữa và các thực phẩm tươi sống khác thường mang vi khuẩn này. Những bệnh nhân suy giảm miễn dịch như người già, trẻ sơ sinh, bệnh nhân điều trị thuốc ức chế miễn dịch, AIDS thường có nguy cơ bị bệnh.

3. Triệu chứng bệnh Viêm màng não mủ

Trẻ em trên 18 tháng tuổi bị viêm màng não mủ có những triệu chứng sau:

  • Hội chứng nhiễm khuẩn: sốt cao đột ngột, viêm long đường hô hấp trên, quấy khóc hoặc li bì, mệt mỏi, ăn uống kém, da tái xấu.
  • Hội chứng màng não: buồn nôn, nôn ói, đau đầu (ở trẻ nhỏ thường quấy khóc hoặc khóc thét từng cơn), có thể có biểu hiện sợ ánh sáng
  • Các biểu hiện khác: co giật, hôn mê, liệt, xuất hiện tử ban (trong nhiễm não mô cầu)

Trẻ sơ sinh và trẻ dưới 3 tháng tuổi

Bệnh thường xảy ra trên trẻ sinh non, nhiễm trùng ối, ngạt sau sinh

  • Hội chứng nhiễm khuẩn: thường không rõ rệt, có thể không sốt, thậm chí còn hạ thân nhiệt
  • Hội chứng màng não cũng không đầy đủ hoặc kín đáo. Trẻ thường bỏ bú, nôn trớ, thở rên, thở không đều hoặc có cơn ngừng thở, thóp phồng hoặc căng nhẹ, bụng chướng, tiêu chảy, giảm trương lực cơ, co giật.

Bệnh thường xảy ra ở trẻ em, giai đoạn hệ thần kinh đang phát triển nên gây ra biến chứng nặng nề:

  • Tử vong: mặc dù có nhiều tiến bộ trong hồi sức thần kinh, tỷ lệ tử vong của viêm màng não mủ còn rất cao do tổn thương não nặng nề, sốc nhiễm trùng, rối loạn nước-điện giải, suy kiệt…
  • Tổn thương dây thần kinh sọ não gây điếc, mù, câm…
  • Áp xe não, áp xe dưới màng cứng, viêm tắc tĩnh mạch, viêm quanh mạch máu não…
  • Tắc nghẽn dịch não tuỷ gây não úng thuỷ
  • Ngoài ra còn các biến chứng ngoài hệ thần kinh, tuỳ theo căn nguyên vi khuẩn gây ra như sốc nhiễm khuẩn, xuất huyết nội (gặp trong nhiễm khuẩn huyết, VMN do não mô cầu), viêm khớp, viêm thận, viêm phổi…

Sau khi bị viêm màng não mủ, nhất là các trường hợp được chẩn đoán điều trị muộn, có thể gặp các di chứng sau:

  • Lác, điếc, câm, mù…
  • Não úng thuỷ
  • Liệt 1 chi, liệt nửa người, liệt hai chi dưới
  • Chậm phát triển tinh thần vận động
  • Giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, rối loạn tâm thần
  • Động kinh.

4. Đường lây truyền bệnh

Viêm màng não mủ thứ phát

  • Ổ nhiễm trùng ở xa màng não đi theo đường máu đến: chiếm phần lớn các trường hợp viêm màng não mủ
  • Vị trí xuất phát thường gặp nhất là từ nhiễm trùng đường hô hấp, vi khuẩn cư trú ở niêm mạc vùng hầu họng rồi sau đó xâm nhập vào máu để vào màng não. 
  • Vị trí xa khác như viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn, viêm tắc tĩnh mạch, trong bỏng nặng, đặt catheter lâu ngày: hiếm gặp
  • Ổ nhiễm trùng lân cận như viêm xoang mũi, viêm tai giữa, viêm xương chũm, viêm mô tế bào hốc mắt hoặc viêm xương- tuỷ xương các xương sọ não hoặc xương cột sống.

Viêm màng não mủ nguyên phát

Vi khuẩn xâm nhập trực tiếp qua vết thương hở do chấn thương, phẫu thuật vùng sọ não, cột sống… hoặc do thủ thuật chọc dò dịch não tuỷ. Từ đó chúng đi theo dịch não tủy để đến tủy sống và khoang dưới nhện. Sự nhân lên của vi khuẩn tại đây rất nhanh, khởi phát một chuỗi các phản ứng viêm mạnh mẽ. Hậu quả của phản ứng viêm này là sự xâm nhập bạch cầu đa nhân trung tính vào khoang dịch não tủy (sinh mủ).

5. Đối tượng nguy cơ bệnh

Những đối tượng có nguy cơ cao bị viêm màng não mủ bao gồm:

  • Trẻ sơ sinh, trẻ sinh non, trẻ ngạt sau sinh, mẹ bị nhiễm trùng ối hoặc sốt lúc mang thai
  • Người suy giảm miễn dịch: người già, người nhiễm HIV/AIDS, người điều trị thuốc ức chế miễn dịch

6. Phòng ngừa bệnh

  • Phát hiện sớm và điều trị triệt để các bệnh nhiễm trùng đường hô hấp, bệnh nhiễm trùng tai – mũi – họng ở trẻ nhỏ
  • Giữ gìn vệ sinh cá nhân, dọn dẹp nơi ở thoáng mát, sạch sẽ
  • Vệ sinh tai – mũi – họng hằng ngày
  • Tiêm phòng vắc xin viêm màng não mủ. Hiện nay ở Việt Nam đã có vắc xin viêm màng não mủ do não mô cầu, phế cầu khuẩn và Haemophilus influenzae tuýp b.

Khi thấy trẻ có những dấu hiệu bất thường có liên quan đến viêm màng não mủ hoặc mắc các bệnh nhiễm trùng hô hấp cần đưa trẻ đến các cơ sở y tế để khám và điều trị kịp thời, tránh để tình trạng bệnh nặng, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm.

7. Các biện pháp chẩn đoán bệnh

  • Việc phát hiện sớm và chẩn đoán kịp thời có ý nghĩa rất quan trọng trong điều trị nhằm hạn chế tử vong và dị chứng cho trẻ.
  • Khi có các dấu hiệu nghi ngờ kể trên, bác sĩ sẽ thực hiện các xét nghiệm xác định chẩn đoán như công thức máu, CRP, điện giải đồ, cấy máu và quan trọng nhất là chọc dò dịch não tuỷ để xét nghiệm sinh hoá và vi sinh.
  • Chọc dò dịch não tủy là thủ thuật mang tính quyết định để chẩn đoán xác định. Đây là một thủ thuật xâm lấn và vô trùng. Cần tiến hành chọc dịch não tuỷ sớm ngay khi thăm khám có nghi ngờ viêm màng não mủ. Vị trí chọc dịch não tủy hay sử dụng nhất trên lâm sàng là vùng cột sống thắt lưng ngang mức L4- L5. Bác sĩ sử dụng kim chuyên biệt chọc vào khoang dịch não tủy để lấy dịch não tủy.
  • Dịch não tủy sẽ được đánh giá qua quan sát bằng mắt thường, xét nghiệm sinh hoá và vi sinh. Trong viêm màng não mủ, dịch não tuỷ đục như nước vo gạo hoặc như mủ. Soi hoặc cấy dịch não tuỷ xác định được vi khuẩn gây bệnh.

8. Các biện pháp điều trị bệnh

Điều trị viêm màng não mủ cần tiến hành sớm, theo dõi chặt chẽ để thay đổi điều trị thích hợp và xử trí nhanh chóng các biến chứng. Điều trị gồm có hai phần chính: điều trị đặc hiệu và điều tị nâng đỡ.

Điều trị đặc hiệu: sử dụng kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh

Cần kết hợp chẩn đoán căn nguyên và điều trị đặc hiệu bằng kháng sinh sớm. Kháng sinh thường được chỉ định ngay sau khi chọc dịch não tủy nếu nghi ngờ viêm nàng não mủ.

Một số tình trạng bệnh nhân chưa cho phép chọc dịch não tủy thì vẫn tiến hành điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm được lựa chọn dựa vào tần suất gây bệnh của các loại vi khuẩn, khả năng thấm qua hàng rào máu não, ít gây tác dụng phụ.

Sau khi có kết quả kháng sinh đồ thì điều trị theo kháng sinh đồ.

Điều trị có thể kéo dài từ 10 ngày đến 3 tuần tùy theo tác nhân gây bệnh.

Điều trị nâng đỡ bao gồm:

  • Bảo đảm thông khí: tư thế phù hợp, hút đờm dãi, cung cấp đủ oxy
  • Hạ sốt: cởi bớt quần áo, lau mát, sử dụng thuốc paracetamol, thuốc an thần (nếu có sốt co giật)
  • Chống phù não
  • Cân bằng nước-điện giải
  • Đảm bảo dinh dưỡng, đề phòng và chống loét tì đè do nằm lâu, tập vật lý trị liệu

Một số trường hợp viêm màng não mủ có biến chứng nặng như áp xe não cần được xử trí bằng phương pháp phẫu thuật

Nguồn: Vinmec

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *