Chụp OCT bán phần sau nhãn cầu

chup-oct-ban-phan-sau-nhan-cau

Tổng quan về Chụp OCT bán phần sau nhãn cầu

Tên khoa học: Chụp OCT bán phần sau nhãn cầu

Mô tả sơ bộ kỹ thuật:

OCT là tên viết tắt tiếng Anh của từ Optical Coherence Tomography, có thể hiểu sang tiếng Việt là chụp cắt lớp quang học. Về nguyên lý hoạt động OCT có nguyên lý gần giống như siêu âm nhưng người ta dùng ánh sáng thay cho sóng âm. Như vậy nếu các môi trường mắt không bị vẩn đục lắm ta có thể dùng OCT quan sát tất cả các cấu trúc của mắt trên không gian 3 chiều, giống như dùng một con dao cắt thật mịn và mỏng các cấu trúc của nhãn cầu với độ phân giải cực cao, không xâm lấn vào tổ chức của mắt đồng nghĩa với không đau đớn và chảy máu.  Siêu âm A loại tốt nhất cũng chỉ đảm bảo độ phân giải khoảng 100 micron( 1/10 của mm) thế nhưng OCT đem đến độ phân giải tới 10-20 micron. Do vậy OCT cho ta nghiên cứu ở cấp độ vi thể chứ không phải là đại thể như các thiết bị nhãn khoa khác.

Kỹ thuật này dùng để chẩn đoán bệnh gì?

  • Võng mạc

Đối tượng chỉ định và chống chỉ định

Chỉ định:

Bệnh nhân cần đánh giá bán phần sau nhãn cầu đặc biệt trong các bệnh võng mạc, và lớp sợi thần kinh thị giác quanh gai trong bệnh lý Glocom

Chống chỉ định:

Vì sử dụng nguyên lý ánh sáng nên OCT có một số điểm hạn chế nhất định và không thực hiện được trong những trường hợp sau:

  • Đồng tử co nhỏ dưới 3 mm
  • Đục môi trường trong suốt của mắt như: sẹo giác mạc, thủy dịch vần đục, đục thủy tinh thể, đục dịch kính, xuất huyết dịch kính…
  • Trẻ em hoặc bệnh nhân quá già yếu không phối hợp trong quá trình thăm khám
  • Bệnh nhân không định thị được do thị lực kém.

Ưu điểm và nhược điểm của kỹ thuật

Ưu điểm:

  • Chụp  OCT bán phần sau nhãn cầu  khắc phục được một số nhược điểm của phương pháp khám lâm sàng hay siêu âm, giúp các bác sĩ nhãn khoa chẩn đoán sớm, chính xác và theo dõi diễn biến bệnh trong suốt quá trình điều trị để có biện pháp điều trị thích hợp.
  • Chụp cắt lớp võng mạc có thể coi như một hình thức chụp CT scanner nhưng tỉ mỉ hơn, chính xác hơn, có thể nói là ở mức vi thể.
  • Độ phân giải của OCT đạt mức 10 micron trong khi siêu âm B chỉ là 150 micron cho phép đánh giá sự thay đổi rất nhỏ trong các lớp cấu trúc võng mạc và gai thị.
  • OCT bán phần sau nhãn cầu  sử dụng nguyên lý ánh sáng, không đau, không chảy máu nên có thể thực hiện nhiều lần trên một bệnh nhân, phương pháp này không tiếp xúc trực tiếp với mắt nên không gây bất kỳ biến chứng nào cũng như sự khó chịu cho người bệnh.  
  • OCT cho phép nghiên cứu cả về mặt định tính cũng như định lương các cấu trúc của võng mạc. Trong quá trình định hướng điều trị, theo dõi và tiên lượng bệnh, chụp cắt lớp võng mạc cũng có vai trò quan trọng.
  • OCT cho phép phân tích, đo đạc, dựng bản đồ, lưu trữ ảnh và số liệu, dữ liệu… của các lần thăm khám trước đó và có chương trình so sánh kết quả giữa các lần thăm khám nhằm đánh giá tiến triển của bệnh.

Quy trình thực hiện

  1. Kiểm tra hồ sơ
  2. Kiểm tra người bệnh
  3. Thực hiện kỹ thuật
  •  Khởi động máy OCT, lựa chọn chế độ chụp bán phần sau.
  •  Nhập dữ liệu thông tin bệnh nhân:

Bệnh nhân ngồi trước máy OCT, đặt cằm và đầu đúng tư thế để hạn chế cử động. Máy sẽ quét võng mạc của bệnh nhân mà không có sự tiếp xúc nào với mắt người bệnh,thường sẽ tốn khoảng 5-10 phút tùy thuộc vào sự hợp tác tốt hay không của bệnh nhân. Do đó, tuân thủ đúng hướng dẫn của nhân viên y tế lúc chụp cũng góp phần tiết kiệm thời gian, cũng như đảm bảo độ chính xác của xét nghiệm.

  •  Điều chỉnh máy sao cho hình ảnh rõ nét trên màn hình hiển thị.
  •  Yêu cầu bệnh nhân mở mắt, nhìn vào tiêu định thị
  •  Tiến hành chụp
  •  In và ghi kết quả vào phiếu chụp.

Biểu hiện bình thường sau thực hiện kỹ thuật

OCT sử dụng nguyên lý ánh sáng, không đau, không chảy máu nên có thể thực hiện nhiều lần trên một bệnh nhân, phương pháp này không tiếp xúc trực tiếp với mắt nên không gây bất kỳ biến chứng nào cũng như sự khó chịu cho người bệnh

Để chụp OCT, bệnh nhân không cần nhỏ giãn đồng tử (trong khi chụp đáy mắt bệnh nhân bắt buộc phải nhỏ giãn đồng tử ), vì vậy sẽ không gây chói mắt nhìn mờ cho người bệnh.

Khi nào thì những biểu hiện sau thực hiện kỹ thuật là bất thường và cần tái khám ngay?

Đau mắt, ngứa, cộm liên tục. Mắt nhạy cảm với ánh sáng,

Những điều cần lưu ý khi thực hiện kỹ thuật này

Màu sắc hiển thị trên kết quả OCT hoàn toàn là mã hóa chứ không phải là màu thật. Màu sắc được mã hóa để phân biệt các cấu trúc mô và mặt tiếp xúc. Các cấu trúc phản quang mạnh thường được có gam màu đỏ hoặc vàng.

Nguồn: Vinmec

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *